FC Barcelona gọi tắt là Barcelona hay Barca, là câu lạc bộ bóng đá giàu thành tích nhất ở Barcelona, Catalunya, Tây Ban Nha. FC Barcelona được thành lập vào năm 1899 bởi một nhóm cầu thủ bóng đá người Thụy Sĩ, Anh và Catalan. Sân nhà của Barca là sân Nou Estadi del Futbol Club Barcelona, thường được gọi là Camp Nou.

Đối thủ chính của Barcelona là Real Madrid. Barca cùng Real và Athletic Bilbao là 3 câu lạc bộ chưa bao giờ bị xuống chơi ở giải hạng nhì từ khi giải vô địch bóng đá Tây Ban Nha được thành lập vào năm 1929.

Những Tin Tức Mới Nhất Liên Quan Đến Câu Lạc Bộ Barca

I. Quá trình hình thành và phát triển

1. Giai đoạn 1899 – 1923: những ngày đầu thành lập

– 29/11/1899, 11 cầu thủ gồm Walter Wild, Lluís d’Ossó, Bartomeu Terradas, Otto Kunzle, Otto Maier, Enric Ducal, Pere Cabot, Josep Llobet, John Parsons, và William Parsons cùng nhau thành CLB Football Club Barcelona. Walter Wild được bầu làm chủ tịch đầu tiên.

Walter Wild – chủ tịch đầu tiên của Barcelona

Walter Wild – chủ tịch đầu tiên của Barcelona

– 8/12/1899, Barca có trận đấu đầu tiên với đội bóng nước Anh nhưng đáng tiếc bị thất bại 0-1
– 1902, Barca có trận đấu đầu tiên với Real Madrid (lúc đó là FC Madrid) với chiến thắng 3-1. Và cũng bắt đầu từ đây 2 đội bóng chính thức trở thành kình địch của nhau trong suốt nhiều năm sau đó.

2. Giai đoạn 1923 -1939: thời kỳ nội chiến

– 1923, Barca thành lập sân vận động Les Corts và thu hút rất nhiều cầu thủ nổi tiếng như Samitier, Sargi-Barba, Piere, Sancho,..
– Barca trở thành nhà vô địch La Liga đầu tiên (1929) và cũng giành được nhiều chức vô địch khác trong thời kỳ này
– Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và nội chiến sau đó đã buộc CLB phải bán đi những cầu thủ hay nhất của mình. Chế độ Franco căm thù đội bóng giương cao ngọn cờ của xứ Catalan. Không chỉ gạt bỏ tất cả những gì liên quan đến địa phương, chẳng hạn như ngôn ngữ, Franco còn đưa một người thân cận lên chức chủ tịch CLB và đổi tên Barca thành “Club de Fútbol Barcelona” theo đúng tiếng Tây Ban Nha.

3. Giai đoạn 1939 – 1988: thời đại mới trong lịch sử Barcelona

– Thập niên 1950s là thời kỳ đỉnh cao của Barcelona khi trong vòng 13 năm, đội bóng đã giành được 6 chức vô địch La Liga, 5 cúp nhà vua và 2 cúp hội chợ liên thành phố (tiền thân của cúp C3 sau này)
– 24/9/1957, sân Camp Nou – sân vận động mới của Barca được khánh thành với sức chứa hơn 90.000 chỗ ngồi và cho đến bây giờ sân Camp Nou vẫn là SVĐ lớn nhất châu Âu.

4. Giai đoạn 1988 – 2008: thời đại của các HLV Hà Lan

– 1988, Johan Cruyff chính thức trở thành HLV trưởng của Barcelona và nhanh chóng biến CLB thành “dream team” với hàng loạt chiến thắng vẻ vang như chiến thắng Cúp nhà vua và cúp C2 (1996); vô địch Cúp quốc gia (1997-98); vô địch La Liga (1998, 1999)

Johan Cruyff – một trong những HLV thành công nhất của Barcelona

Johan Cruyff – một trong những HLV thành công nhất của Barcelona

– Tuy nhiên, sau mùa giải 1999, Barca dưới sự dẫn dắt của HLV mới Louis van Gaal đã liên tiếp trải qua những mùa giải trắng tay. Và Gaal cũng buộc phải nhường chỗ cho tân HLV Frank Rijkaard. Tuy nhiên, Rijkaard cũng không mang về thành tích nổi bật nào cho Barca ngoại từ chức vô địch La Liga mùa giải 2004 -05
– Mùa giải 2005-06, Barca ra mắt cầu thủ trẻ Lionel Messi, người mà sau này trở thành cầu thủ xuất sắc nhất thế giới. Đồng thời, CLB cũng dễ dàng bảo vệ thành công chức vô địch La Liga thứ 18 và đánh bại Arsenal để đoạt chiếc cúp Champions League.

5. Giai đoạn 2008 – 2012: thời hoàng kim của Guardiola

– Mùa giải 2006-08, Barca đánh mất phong độ khi liên tiếp thất bại tại La Liga và UEFA Champions League.
– Mùa giải 2008 – 2011, dưới sự dẫn dắt của Pep Guardiola, Barca đã có cú ăn ba khi vượt qua Real Madrid tại giải quốc nội, vượt mặt Athletic Bilbao đến 4-1 trong trận chung kết Cup Nhà Vua và thắng ĐKVĐ châu Âu khi đó là Manchester United với tỷ số 2-0.
– Mùa giải 2010-11, Barca tiếp tục đánh bại MU tại Champion League, đồng thời đoạt lấy cả chiếc cúp La Liga. Nhưng mùa giải sau đó, Barca chỉ giành được 1 danh hiệu duy nhất là cúp nhà vua khi đánh bại Bilbao với chiến thắng 3-0.
– Cuối mùa giải, HLV Pep Guardiola chia tay Barcelona, trợ lý Tito Vilanova lên thay.

6. Giai đoạn 2012 đến nay

– Mùa giải 2012-13, Barca không có kết quả tốt khi bị Real đánh bại 2-1 ở lượt về La Liga, tiếp tục thất bại trước Real tại Siêu Cúp Tây Ban Nha và cúp nhà vua. Ở đấu trường châu Âu, Barca cũng để thua trước Bayern Munich 7 bàn không gỡ. Kết thúc mùa giải, HLV Tito Vilanova xin từ chức
– Thay thế cho Vilanova là Gerardo Martino ở mùa giải 2013-14. Barca đã giành được Siêu cup bởi luật bàn thắng trên sân khách. Tuy nhiên đây lại là một mùa giải đáng thất vọng nhất sau thời Guardiola khi Barca không thể giành được một danh hiệu nào. Gerardo Martino rời khỏi cương vị HLV trưởng Barca vào tháng 6/2014
– Thay thế Gerardo Martino là HLV Luis Enrique. Ở mùa giải này, Barca chi hơn 150 triệu euro vào thi trường chuyển nhượng và đã tái hiện lại cú ăn 3 như dưới thời Guardiola: vô địch La Liga, vô địch cúp nhà vua & vô địch cúp châu Âu.
– Mùa giải 2015 – 16, Barca mở màn với chiến thắng nghẹt thở 5-4 trước Sevilla tại trận tranh Siêu Cup châu Âu. Tại quốc nội CLB cũng có bàn thắng đậm 4-0 trước Real Madrid. Tại giải Cup thế giới các CLB, Barca lần lượt vượt qua Quảng Châu, Evergrande và River Plate với cùng tỉ số 3-0, qua đó kết thúc năm 2015 cùng cú ăn 5 vĩ đại.
– Bước sang 2016, Barca cũng có mùa giải khá thành công khi với 2 danh hiệu La Liga và Cúp nhà vua

II. Huy hiệu

Từ khi thành lập vào năm 1899 đến nay, Barcelona đã trải qua 10 lần thay đổi huy hiệu:
– 1899, khi mới thành lập, logo CLB có sự kết hợp lá cờ xứ Catalonia và chữ thập của thánh Georges. Biểu trưng đầu tiên của đội chỉ đơn giản là một hình thoi, ở trên có vương miện xứ Aragon và một con dơi, bên trái có một cành nguyệt quế và bên phải có một cành cọ.
– Năm 1910, logo mới của Barca giống một cái nồi khổng lồ, phần phía trên bên trái có chữ thập của thánh Georges, phía trên bên phải là cờ xứ Catalonia, phía dưới là màu áo của đội.
– Những năm 1940s, dưới chế độ độc tài Franco, các kí tự “F. C. B” (tên CLB viết tắt bằng tiếng Catalan) được thay bằng các kí tự “C. F. B” (tên CLB viết tắt bằng Tây Ban Nha), bốn gạch đỏ của cờ xứ Catalan cũng được rút xuống thành hai gạch đỏ giống với cờ TBN.
– 1949, phiên bản với cờ Catalan ở góc phải được sử dụng lại. Năm 1974, khi chế độ Franco đã bắt đầu suy yếu, đội lại sử dụng lại biểu trưng với các chữ viết tắt ” F.C.B”. Lần gần đây nhất logo được hiện đại hóa là vào năm 2002 khi nhà thiết kế Claret Serrahima xóa bớt các dấu chấm giữa các chữ viết tắt.

Huy hiệu Barcelona qua các năm

Huy hiệu Barcelona qua các năm

III. Sân vận động

– Sân nhà đầu tiên của Barcelona là sân Camp de la Indústria với sức chứa 6.000 chỗ ngồi.
– 1922, khi lượng cổ động viên đã vượt ngưỡng 20.000, Barça đã vay tiền để xây sân Camp de Les Corts, với sức chứa ban đầu là 20.000 chỗ ngồi. Camp de Les Corts được nấng cấp vào các năm 1944, 1946 và lần cuối cùng là 1950 với sức chứa 60.000 chỗ.
– Cuối năm 1950, CLB mua mảnh đất gần sân Camp de Les Corts. Mãi đến ngày 28/3/1954, dự án sân Camp Nou mới được động thổ và khánh thành vào ngày 24/9/1957 với tổng mức đầu tư 288 triệu peseta.
– Sân Camp Nou được tu sửa vào các giai đoạn 1933-34, 1995-96, 1997-98, 1998-99 và hiện tại sân có sức 99.354 chỗ ngồi.
– Tháng 4/2016, Barcelona đã tổ chức buổi họp báo công bố dự án Espai Barca – đại tu sân vận động Nou Camp, với kinh phí 328 triệu euro, dự kiến khởi công vào năm 2017 và hoàn thành vào năm 2021.

Sân vận động Nou Camp với sức chứa hơn 90.000 chỗ ngồi

Sân vận động Nou Camp với sức chứa hơn 90.000 chỗ ngồi

Ngoài sân chính Nou Camp, Barcelona còn sở hữu các cơ sở hạ tầng đáng chú ý khác như:
– Học viện đào tạo cầu thủ La Masia
– Khu huấn luyện Ciutat Esportiva Joan Gamper
– Khu bảo tàng Josep Lluis Nonez
– Sân nhà đội 2 Mini Estadi
– Khu liên hợp thể thao trong nhà Palau Blaugrana
– Đường trượt băng Pista de Gel
– Cư xá của các cầu thủ trẻ Masia-Centre de Formació Oriol Tort

IV. Chủ sở hữu

– Chủ tịch đầu tiên của Barcelona là Walter Wild. Vào ngày 29/11/1899, Wild đã cùng 11 người khác thành lập đội bóng FC Barcelona. Ông đã dùng chính căn hộ của mình ở Carrera Princesa làm đại làm đại bản doanh của CLB. Trong suốt thời kỳ đảm nhiệm chức chủ tịch Barca (từ năm 1899-1901), điều khiến ông tự hào nhất chính đã xây dựng cho CLB khu luyện tập riêng Casanovas.
– Kế nhiệm ông là Bartomeu Terrades (1901-1902). Ông được xem là một trong những chủ tịch tài giỏi nhất lịch sử Barcelona khi đóng góp 1400 peso thanh toán các khoản nợ cjo CLB. Dưới thời của ông. Barca cũng giành được danh hiệu đầu tiên là chiếc cúp Macaya.
– Các đời chủ tịch tiếp theo của Barcelona bao gồm: Paul Haas (1902-1903); Arthur Witty (1903-1905) Josep Solar (1905-1906); Juli Marial (1906-1908); Hans Gamper (1908-1909, 1909-1913, 1917-1919; 1921-1923, 1924-1925); Vicenc Reig (1908); Otto Gmelin (1909-1910); Francesc de Moxo (1913-1914); Alver Presta (1914); Joaquim Peris de Vargas (1914-1915); Rafael Liopart (1915-1916); Gaspar Roses (1916-1917, 1920-1921, 1930-1931); Ricard Grealls (1919-1920); Enric Cardona (1923-1924); Arcadi Balaguer (1925-1929); Tomas Roses (1929-1930); Antoni Oliver (1931); Joan Coma 1931-1934); (Esteve Sala (1934-1935); Josep Sunyol (1935-1936); Enrique Pineyro (1940-1943); Josep Antoni de Albert (1943); Josep Vendrell (1943-1946); Agusti Montal i Galobart (1946-1952); Enric Marti Carreto (1952-1953); Francesc Miro-Sans (1953-1961); Enric Llaudet (1961-1968); Narcis de Carreras (1968-1969); Agusti Montal i Costa (1967-1977); Raimon Carrasco i Azermar (1977-1978); Josep Lluis Nunez (1978-2000); Joan Gaspart i Solves (2000-2003); Joan Lapoorta i Estruch (2003-2010); Sandro Rossel i Feliu (2010-2014)
– Chủ tịch hiện tại của Barcelona là Josep Maria Bartomeu (6/5/1963). Ông là doanh nhân Tây Ban Nha, hiện là giám đốc điều hành của Tập đoàn ADELTE bao gồm nhiều công ty nhỏ chuyên thiết kế và sản xuất vật liệu liên quan đến các cảng và sân bay, dịch vụ bảo trì… Bartomeu là thành viên của Barca từ năm 1974.

Josep Maria Bartomeu – chủ tịch hiện tại của Barcelona

Josep Maria Bartomeu – chủ tịch hiện tại của Barcelona

V. Huấn luyện viên

– John Barrow (1917) – Jack Greenwell (1917-1924; 1931-33)
– Jesza Poszony (1924-1925) – Ralph Kirby (1925-1926)
– Jack Domby (1926-27; 1933-34) – Roma Forns (1927-1929)
– James Bellamy (1929-1931) – Franz Platko (1934-1935; 1955-56)
– Pattrick O’Connell (1935-1937) – Josep Planas (1939-1941)
– Ramon Guzman (1941-1942) – Joan Josep Nogues (1942-1944)
– Josep Samitier (1944-1947) – Enrique Fernandez (1947-1950)
– Ramon Llorents (1950) – Ferdinard Daucik (1950-1954)
– Sandro Puppo (1954-1955) – Domenec Balmanya (1956-1958)
– Helenio Herrera (1958-60; 1980; 1980-81) – Enric Rabassa (1960)
– Ljubisa Brocic (1960-1961) – Enrique Orizaola (1961)
– Llui Miro (1961- 1961) – Ladislao Kubala (1962-63; 1980)
– Josep Gonzallvo (1963) – Caser Rodriguez (1963-1965)
– Vicenc Sasot (1964-1965) – Roque Olsen (1965-1967)
– Salvador Artigas (1967-1969) – Josep Seguer (1969-1970)
– Vic Buckingham (1969-1971) – Marinus Michels (1971-1975; 1976)
– Hennes Weissweiler (1975-1976) – Laureano Ruiz (1976)
– Lucien Muller (1978-1979) – Joaquim Rife (1979-1980)
– Udo Lattek (1981-1983) – Jose Luis Romero (1983)
– Caser Luis Menotti (1983-1984) – Terry Venables (1984-1987)
– Luis Aragones (1987-1988) – Johan Cruyff (1988-1996)
– Bobby Robson (1996-1977) – Louis Van Gaal (1997-2000; 2002-2003)
– Llorenc Serra Ferrer (2000-2001) – Carles Rexach (1988;1991;1996&2001-02)
– Radomir Antic (2003) – Frank Rijkaard (2003-2008)
– Josep “Pep” Guardiola i Sala (2008-12) – Francesc “Tito” Vilanova i Bayo (2012-13)
– Gerardo “Tata” Martino (2013-2014) – Luis Enrique Martinez Garcia (2014 đến nay)

VI. Cầu thủ

Tên Năm sinh Quốc tịch Vị trí Số áo Ngày chuyển nhượng Giá chuyển nhượng
Marc-Andre ter Stegen 1992 Đức Thủ môn 1 1/7/2014 ( chuyển từ Borussia Moenchengla..) 12 triệu €
Jasper Cillessen 1989 Hà Lan Thủ môn 13 25/8/2016 (chuyển từ Ajax Amsterdam) 13 triệu €
Jordi Masip 1989 Tây Ban Nha Thủ môn 25 Gia nhập lò đào tạo trẻ Barce từ nằm 2004
Gerard Pique 1987 Tây Ban Nha Hậu vệ 3 1/7/2008 (chuyển từ Manchester United) 5 triệu €
Rafinha 1993 Brazil Hậu vệ 12 Gia nhập CLB trẻ Barca từ năm 2006
Javier Mascherano 1984 Argentina Hậu vệ 14 29/8/2010 (chuyển từ Liverpool) 20 triệu €
Jordi Alba 1989 Tây Ban Nha Hậu vệ 18 1/7/2012 (chuyển từ Valencia C.F) 14 triệu €
Lucas Digne 1993 Pháp Hậu vệ 19 15/7/2016 (chuyển từ PSG) 16,5 triệu €
Samuel Umtiti 1993 Pháp Hậu vệ 23 15/7/2016 (chuyển từ Lyon) 25 triệu €
Jeremy Mathieu 1983 Pháp Hậu vệ 24 23/7/2014 (từ Valencia C.F) 20 triệu €
Marlon Santos 1995 Brazil Hậu vệ 33 6/2017 (Mua đứt từ Fluminense sau mùa giải chơi cho Barca với danh nghĩa cho mượn) N/A
Ivan Rakitic 1988 Croatia Tiền vệ 4 1/7/2014 (chuyển từ Sevilla) 18 triệu €
Sergio Busquets 1988 Tây Bna Nha Tiền vệ 5 Gia nhập lò đào  tạo Barca từ năm 2005
Denis Suarez 1994 Tây Ban Nha Tiền vệ 6 4/7/2016 (chuyển từ Villreal) 3,3 triệu €
Arda Turan 1997 Thổ Nhĩ Kỳ Tiền vệ 7 4/1/2016 (chuyển từ Atletico Madrid) 34 triệu €
Andres Iniesta 1984 Thổ Nhĩ Kỳ Tiền vệ 8 Gia nhập lò đào tạo trẻ Barca từ năm 1996
Sergi Roberto 1992 Tây Ban Nha Tiền vệ 20 Gia nhập lò đào tạo trẻ Barca từ năm 2006
Andre Gomes 1993 Bồ Đào Nha Tiền vệ 21 1/7/2015 (chuyển từ Valencia C.F) 25 triệu €
Aleix Vidal 1989 Tây Ban Nha Tiền vệ 22 4/1/2016 (chuyển từ Sevilla) 15 triệu €
Wilfrid Kaptoum 1996 Cameron Tiền vệ 27 Gia nhập lò đào tạo trẻ Barca từ năm 2008
Carles Alena Castillo 1998 Tây Ban Nha Tiền vệ 28 Gia nhập lò đào đạo Barca từ năm 2005
Nili 1994 Tây Ban Nha Tiền vệ 31 Gia nhập đội B Barcelona từ năm 2016
Luis Suarez 1987 Uruguay Tiền đạo 9 15/7/2014 (chuyển từ Liverpool 81 triệu €
Lionel Messi 1987 Argentina Tiền đạo 10 Gia nhập lò đào tạo trẻ Barca từ năm 2000
Neymar 1992 Brazil Tiền đạo 11 1/7/2013 (chuyền từ Santos) 88,2 triệu €
Paco Alcacer 1993 Tây Ban Nha Tiền đạo 17 30/8/2016 (chuyển từ Valencia C.F) 30 triệu €

VII. Thành tích và kỷ lục

Từ khi thành lập từ 1899 đến nay, Barcelona đã đạt được 67 danh hiệu trong nước và 20 danh hiệu quốc tế. Qua đó, Barca được đánh giá là một trong những đội bóng mạnh nhất châu Âu hiện nay.

1. Trong nước

– 24 lần vô địch Tây Ban Nha: 1928–29; 1944–45; 1947–48; 1948–49; 1951–52; 1952–53; 1958–59; 1959–60; 1973–74; 1984–85; 1990–91; 1991–92; 1992–93; 1993–94; 1997–98; 1998–99; 2004–05; 2005–06; 2008–09; 2009–10; 2010–11; 2012–13; 2014–15; 2015–16
– 29 lần vô địch Cúp nhà vua Tây Ban Nha: 1909–10; 1911–12; 1912–13; 1919–20; 1921–22; 1924–25; 1925–26; 1927–28; 1941–42; 1950–51; 1951–52; 1952–53; 1956–57; 1958–59; 1962–63; 1967–68; 1970–71; 1977–78; 1980–81; 1982–83; 1987–88; 1989–90; 1996–97; 1997–98; 2008–09; 2011–12; 2014–15; 2015-16; 2016-17
– 12 lần vô địch siêu cúp Tây Ban Nha:
1983, 1991, 1992, 1994, 1996, 2005, 2006, 2009, 2010, 2011, 2013, 2016
– 2 lần vô địch Cúp liên đoàn Tây Ban Nha: 1982-1983; 1985-1986

2. Quốc tế

– 5 lần vô địch Siêu cúp bóng đá châu Âu (UEFA Super Cup): 1992, 1997, 2009, 2011, 2015
– 5 lần vô địch Cúp C1 (UEFA Champions League): 1991-1992; 2005-2006; 2008-2009; 2010-2011; 2014-2015
– 4 lần vô địch Cúp C2 (UEFA Cup Winner’s Cup): 1978-1979; 1981-1982; 1988-1989; 1996-1997
– 3 lần vô địch Cúp C3 (Inter Cities Fair Cup): 1958; 1960; 1966
– 3 lần vô địch cúp thế giới các câu lạc bô: 2009, 2011, 2015

Bình luận